Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

CHÂN TRỜI KHÔNG CÓ GÌ VÀ MẶT TRỜI VẪN MỌC...

Các bạn thân mến, trong mỗi chúng ta ai cũng có những sự đinh ninh sai lầm, khi không tìm thấy chiếc ví đựng tiền để trên bàn ta đã lập tức nghi ngờ nó bị ai đó lấy trộm. Dù là người thân thiết hay xa lạ với ta thì ta vẫn cứ hoài nghi. Trong học vấn cũng vậy, nhiều người tự cho rằng mình hiểu vấn đề thế này là đúng, họ nghĩ thế kia là sai. Thậm chí có nhiều người mắc bệnh hoang tưởng nghĩ mình là truyền nhân của một vĩ nhân nào đó... Tất cả đều xuất phát từ cái tôi cá nhân cố chấp, mê lầm của chính bản thân mình. Chúng ta cứ nghĩ rằng chúng ta đã biết rất nhiều về cuộc đời này, nhưng kỳ thực bản thân chúng ta thì chúng ta chưa bào giờ tự hiểu thấu. Cả về thân lẫn tâm, chúng ta cần phải học cách lắng nghe thân thể mình, học cách lắng nghe tâm hồn mình.

NỖI SỢ HÃI VÀ SỰ CÔ ĐƠN

Từ khi có mặt trong cuộc đời này con người và muông thú luôn thường hữu nỗi sợ hãi. Vấn đề ở chỗ nỗi sợ hãi ấy được biểu hiện như thế nào. Có những nỗi lo sợ khiến người ta co vào trong sự khiếp nhược nhưng cũng có những nỗi hiểm nguy khiến người ta vùng vẫy để đương đầu tự vệ, một mất một còn. Những con thú thừa biết chúng có thể hạ gục đối thủ nào và biết những kẻ thù nào nhắm đến chúng như một con mồi. Có một điều ta biết chắc là ông bà tổ tiên loài người không dậy chúng điều đó, tổ tiên của riêng chúng mới có thể kinh nghiệm cho chúng hoặc bản năng sinh tồn đã sẵn như vậy. Tôi không cố làm sáng tỏ những điều đã rõ mà tôi chỉ thấy tự nhiên luôn có những quy luật của mình. Nhà thơ người Anh John Donne (1572-1631) đã có lý khi nói rằng: “Thiên nhiên không có mục đích dù nó có quy luật”. Đó là điều ta dễ đồng tình khi tự hỏi: “con người sinh ra để làm gì?” có câu trả lời như thế này: “sinh ra để trải nghiệm”, vậy trải nghiệm để làm gì? “Trải nghiệm để tiến hóa”, Tiến hóa đề làm gì?... cứ hỏi và trả lời như vậy ta sẽ hiểu rằng mọi thứ chỉ là vô nghĩa, để khi tồn tại rồi con người lại tìm cách tồn tại như thế nào? Mục đích tối hậu của tồn tại cũng chỉ là tồn tại như thế nào mà thôi.
     Bạn có thể nói cùng tôi bạn sợ hãi điều gì nhất không? Có lẽ sẽ thiết thực hơn khi đặt vào một hoàn cảnh cụ thể. Lãnh đạo quốc gia thì sợ mất chủ quền, kinh tế suy thoái, người công nhân thì sợ tai nạn lao động, nông dân thì sợ mất mùa, khi tham gia giao thông thì ta sợ tai nạn, khi đi ngoài trời sấm chớp thì bạn sợ sét đánh, khi bạn giàu có bạn lại sợ cướp bóc, tống tiền... Kể làm sao hết những nỗi sợ hãi của con người. Nhưng chung quy lại có hai điều sợ hãi mang tính bản thể luận: Đó chính là đau khổ về thân và đau khổ  về tâm. Gọi chung là Phiền Não.
Nỗi đau khổ về thân đến từ các cơ quan cảm giác bén nhạy truyền đến trung khu thần kinh: như là đói khát, gẫy thân, dao đâm, lửa đốt... Còn những đau khổ về tâm lại đến từ cảm xúc với thất tình lục dục mà Bụt đã nói rất cặn kẽ. Những cảm xúc vui vẻ, giận giữ, buồn bã, yêu đương, tủi nhục, khoái lạc diễn ra không như ý nguyện đều đưa con người đến sự đau khổ và phiền não. Không những thế trong con người còn có một cảm giác Khó Chịu, nó vừa biểu hiện mang tính vật chất và mang tính tinh thần. Có người bạn nói với tôi: “chẳng biết làm gì bây giờ, khó chịu quá!”. Tôi không lấy làm ngạc nhiên vì sự khó chịu này xuất phát từ sự bế tắc bên trong, có đôi khi con người ta không biết mình muốn gì và làm gì. Cảm giác này lơ lửng giữa hư vô và dục vọng. Và để xóa tan không khí ảm đạm anh ta nhảy ra khỏi nhà, tìm một thú vui gợi ý trước nhất cho anh ta.  Nghĩa là Dục vọng là cái đến sau sự nhàm chán và vô nghĩa nhất thời, để rồi chính nó lại đưa mỗi chúng ta vào vòng phiền não không có điểm dừng. Thậm chí dục vọng này lại nhằm bao che và tháo gỡ cho một dục vọng khác, kết quả là dục vọng không biết đủ dẫn đến lòng tham vô đáy, dẫn đến những kết cục không bình an mà chẳng ai mong muốn.
Dục vọng còn đó là mầm mống của tội ác và nó khiến cho nỗi sợ hãi nhân lên gấp đôi: Sợ bị mất và sợ bị trừng phạt”. Nhưng dù nói gì, hạnh phúc và khổ đau là những gì ta có được từ những nghiệm sinh đời người. Cái mà mỗi người hiểu hơn ai hết.
     Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mở đầu bài Cát Bụi như thế này: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai vươn hình hài lớn dậy, ôi cát bụi tuyệt vời, mặt trời soi một kiếp rong chơi” để rồi đến đoạn sau lại hiu hắt thở dài tiếc nuối: “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi để một mai tôi trở về cát bụi, ôi cát bụi mệt nhoài, tiếng vọng nào gõ nhịp khôn nguôi”. Quả thực, con người đến với cuộc đời đam mê và khát vọng bao nhiêu thì khi phải từ giã cuộc đời càng não nề và buồn bã bấy nhiêu. Nhưng quy luật vẫn là quy luật, chúng ta phải cam chịu sự thật phũ phàng này. Đúng là ta có được cuộc sống ta lại sợ cái chết, ta có hạnh phúc để sợ khổ đau, ta có giàu sang để sợ sự nghèo đói...
Cát bụi lại trở về cát bụi. Trong cuốn tiểu thuyết Và Khi Tro Bụi của Đoàn Minh Phượng kể về câu chuyện của một người phụ nữ đau khổ và cô độc khi cô mất đi người chồng yêu dấu trong một tai nạn giao thông. Từ đó, cô đã phó thác đời mình trên những chuyến tàu không mục đích, một ngày nọ cô bất chợt nhìn thấy một người đàn ông dáng vóc và khuôn mặt tựa người chồng quá cố của mình, rồi cô òa khóc và sụp đổ thêm một lần khi nhận ra vết sẹo trên khuôn mặt ấy có một chút khác biệt so với chồng cô. Những ám ảnh của bóng hình xưa cũ vây kín lấy cô, tình yêu lại hóa thành đau khổ vô vọng.
Câu hỏi đặt ra là, nếu người đàn ông đó giống người chồng của cô ấy như hai giọt nước thì sao? Cô ấy có bớt đau khổ hơn không? hoặc cô ấy có đủ can đảm để làm lại từ đầu? Giá mà trên đời này đàn ông nào cũng có khuôn mặt giống nhau, vóc dáng giống nhau, đời sống tâm hồn như nhau để lỡ mệnh hệ nào, mất bóng hình này còn có bóng hình tương tự để thay thế. Nhưng con người không phải cái máy được sản xuất hàng loạt, cái máy thì không cần biết nỗi cô đơn vốn thuộc về con người. Quả thực, chính nỗi cô đơn làm người ta thêm đau khổ. Sau cùng có thể nói, tất cả ước nguyện xuất phát từ dục vọng mà thôi. Ái dục dẫn ta chìm sâu trong những suy tư khôn nguôi và thực sự ta chưa biết cách hài lòng với những gì mình có, thế nên ta vẫn đau khổ triền miên.
Chẳng lẽ không còn phương án nào khác để thoát khỏi đau khổ ngoài cách lìa bỏ mọi ái dục, sống cuộc đời tu hành? Có điều tôi dám chắc là: “người ta không sinh ra để tu” có chăng người ta tu để không muốn sinh ra (nghĩa là dứt khỏi luân hồi). Sự vô nghĩa này không có hồi kết.
Con người ta đã vin vào Dục vọng để thoát khỏi nỗi Cô Đơn và sự Vô Nghĩa của tồn tại, nhưng vì không kiểm soát nổi dục vọng nên nó lại đưa con người đi từ đau khổ này đến phiền não khác. Điều gì sẽ xảy ra nếu sau một đêm, tất cả đàn ông thức dậy đều đẹp đẽ, vạm vỡ, nhân hậu và thanh tú như nhau và đàn bà trên thế giới cũng đẹp như nhau, mọi thứ đều trẻ mãi thì thật tuyệt vời. Nhưng hoa thì nên có nhiều hương sắc, sự Nhàm Chán sẽ diễn ra nếu chỉ có một màu trắng nên tâm hồn con người cũng cần có sự khác nhau. Mong muốn này được nâng cấp từ mong muốn tương tự bên trên. Đó là vấn đề tâm hồn. Có sự màu nhiệm nào diễn ra như vậy chưa? Nếu có như vậy thì con người đã chẳng khổ đau như thế và tôn giáo cũng đã chẳng sinh ra. Mơ ước vẫn chỉ là mơ ước. Suy tư nối tiếp những suy tư, trăn trở này nằm bên cạnh trăn trở khác, tất cả lại dẫn ta vào mớ bòng bong của khát vọng không điểm dừng.
Nhưng con người đã làm nên các giống động thực vật biến đổi gen đấy thôi, đã can thiệp vào tạo hóa đấy thôi, ở góc độ nào đó con người cũng được xem là đấng sáng tạo, nói đúng hơn là con người có khả năng sao chép những quy luật của thiên nhiên theo cách của riêng mình. Nếu viễn cảnh Nhân Bản Vô Tính cho ra những thiên tài và hoa hậu được nhân loại ngưỡng mộ, thì nhân loại sẽ toàn là thiên tài và hoa hậu. Hẳn khi đó hai từ thiên tài và hoa hậu sẽ vô nghĩa. Có lẽ chỉ ở nước Chư Phật mới có sự màu nhiệm này, khi mà ai cũng có thân tướng giống nhau, lòng bác ái như nhau. Ôi, Tồn tại vẫn là tồn tại.
     Tóm lại, trong mỗi chúng ta đều chất chứa đầy rẫy những nỗi sợ hãi, chẳng qua chúng ta không muốn nói ra, chúng ta tìm quên nó trong rất nhiều những dục vọng và xem đó là cứu cánh cho sự tồn tại vô nghĩa. Nhưng cứu cánh cuối cùng là chúng ta phải tự rèn cho mình Bản Lĩnh để chấp nhận sự thật như một thực tại khách quan: Sinh, Trụ, Dị, Diệt hay Sinh, Trưởng, Lão, Tử theo vòng tuần hoàn của vũ trụ. Tiến hóa cũng từ vô thường. Tất cả chỉ là Vô Thường mà đó cũng chính là Đạo.
Một cậu bạn hỏi tôi: “Đạo là gì?”, tôi chỉ mỉm cười. Cậu ấy hỏi lần nữa với giọng điệu: “theo mình nghĩ...” Tôi nhận ra con người ta đa số rất thích nói ra những điều mình mới biết và biết chưa thấu đáo, đặc biệt là muốn cho thiên hạ thấy được những thành tựu của mình, ham hiểu biết cũng là một dục vọng. Con người ta thường có những điểm chung, tất nhiên tôi không nói đến cơ chế sinh hóa của cơ thể mà muốn nói đến cơ chế tinh thần. Đa phần chúng ta thích được khen ngợi (thường là thích nghe người khác khen sau lưng) khi làm được điều gì đó có giá trị, ai cũng thích được nhìn bằng đôi mắt trọng vọng và trìu mến giống như những đứa trẻ thích được cho quà, được nhiều quà hơn đồng nghĩa với việc yêu thương nhiều hơn. Bởi vì trong chúng có một sự quy đổi giá trị. Và tất nhiên cách quy đổi của chúng có thể đúng, có thể sai.
Ông tổ Nho giáo bảo rằng: “Nhân chi sơ, tính dã trực” nghĩa là sinh ra nó là như thế, sau này các học trò của ông mỗi người lại chọn một hướng cực đoan để luận thuyết: Mạnh Từ thì cho rằng “Nhân chi sơ, tính bản thiện”; Tuân Tử thì bảo: “Nhân chi sơ tính bản ác”. Nhìn chung, Nho giáo cho rằng con người có Tứ Đoan nghĩa là con người sinh ra có 4 bản tính không ai dạy dỗ mà tự có. Thứ nhất, biết đâu là đúng sai (thị phi), thứ hai, biết thế nào là xấu hổ, tủi thân (tu ố); thứ ba biết nhường trên kính dưới, tôn ti trật tự (từ nhượng) và thứ tư là luôn có lòng trắc ẩn bên trong. Nho giáo coi trọng đạo đức và trách nhiệm của con người trong những mối quan hệ xã hội từ thời phong kiến gọi là tam cương (quân thần, phu phụ, phụ tử) và ngũ thường bao gồm 5 mối quan hệ thường xuyên (Vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, anh – em, bạn bè) gắn bó mật thiết với những phẩm chất đạo đức tương ứng là nhân, nghĩa, lễ, trí và tín. Những giá trị phẩm chất này đến nay vẫn còn những giá trị tích cực của nó.
Nho giáo yêu cầu con người phải “tồn tâm dưỡng tính” nghĩa là nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp sẵn có của mình. Đến lượt Đạo giáo do Lão Tử sáng lập thì lại cho rằng con người chỉ “tồn tâm dưỡng tính” thì chưa đủ, phải “rèn tâm luyện tính” để nâng cao phẩm chất người, vì có những điều diễn ra trước mắt, tưởng là sai nhưng lại đúng, tưởng là đúng nhưng lại sai. Do đó Đạo giáo có xu hướng quy nguyên phản bản (hướng vào bên trong chính mình) để mở ra cái nhìn sáng suốt, nên Đạo giáo có xu hướng tu luyện Tinh, Khí, Thần để nâng cao đẳng cấp người thành: “Trường sinh bất lão”, “an lạc phiêu diêu”. Họ lên núi tu tiên, không màng thế sự đổi thay. Họ là những con người lựa chọn cách sống đạm bạc, thanh tịnh như lão tiều phu ở núi Na trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ: “ta là kẻ dật dân trên trời, ông lão già lánh bụi, gửi tính mệnh ở nơi lều tranh quán cỏ, tìm sinh nhai ở búa gió dìu trăng, (...) chỉ biết đông kép mà hè đơn, nằm mây mà ngủ khói”. Tinh thần của đạo giáo coi danh lợi như áo phù du, xem cuộc đời như một giấc mộng thể hiện rất rõ trong Đạo Đức KinhNam Hoa Kinh.
Đến lượt Phật giáo, Bụt lại hướng chúng ta vào sự quán chiếu vô thường về kiếp người và vạn vật. Nếu Nho giáo hướng con người đến “tồn tâm dưỡng tính”, Lão giáo hướng đến “rèn tâm luyện tính” thì Phật giáo xoáy sâu vào việc “minh tâm kiến tính”, nghĩa là Giác ngộ lẽ vô thường. Hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục... vốn dĩ nằm sâu trong bản năng con người, những mối quan hệ xã hội sẽ khơi nó thức giấc.
Mọi đau khổ phiền não đều xuất phát từ thất tình lục dục và vô minh. Kinh Phật có một số lượng khổng lồ với 12 bộ kinh được chia thành 5 thời và sau này chia thành 3 bộ gồm: Kinh – Luật – Luận, nhưng tất cả tinh thần đều được đúc kết thông qua Tứ diệu đếBát chánh đạo. Cũng xuất phát từ quan điểm tị thế, Bụt hướng nhân loại đến giác ngộ lẽ vô thường rồi dần dần từ bỏ ái dục, từ bỏ cái tôi để đi đến sự giải thoát, ngài đã từng nói: “nếu biển chỉ có một vị mặn thì giáo lí của ngài cũng chỉ có một vị là Giải thoát. Ngài còn khẳng định: “ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”.
Tất cả các tôn giáo dù phương Đông hay phương Tây đều hướng con người đến đạo đức, tình thương và lòng bác ái. Nhưng vấn đề nhân đạo không ai có thể làm thay chính bản thân mỗi con người. Con người trong thực tế vẫn không ngừng tiến hóa để làm trong sáng tâm hồn mình nhằm hướng đến một hạnh phúc thường cửu. Muốn như thế không có gì khác ngoài việc tự mình rèn luyện, tự mình tu tâm dưỡng tính, tự mình rèn tâm luyện tính và tự mình minh tâm kiến tính. Chẳng ai có thể thay ta làm những việc ấy. Đức Giêsu từng bảo: “Hãy lật đá, các ngươi sẽ tìm thấy ta, hãy chẻ gỗ và ta ở đó” nghĩa là đấng sáng tạo nằm ngay bên trong vạn vật và nằm trong chính bản thể của mỗi con người. Nhà triết học người Đức Meister Eckkart (1260-1328) cũng nói với ta rằng: “Con mắt tôi nhìn thượng đế cũng chính là con mắt thượng đế nhìn tôi”.
Đã có bao nhiêu vị thầy minh triết của nhân loại giảng cho ta về đạo đức, đã chỉ cho ta cách sống có tình thương, sự bao dung, lòng trắc ẩn. Sự ích kỷ của chúng ta tăng lên theo cấp số nhân, kinh tế càng khó khăn, mưu sinh và tham dục càng lớn, bi kịch vì thế càng khổng lồ. Tranh chấp, giết người, lừa gạt, thủ đoạn, khủng bố, chiến tranh... tất cả xuất phát từ lòng tham và sự mù quáng. Ma và Phật khác nhau ở chỗ một bên thì bên kia thì Giác, chính vì mê mờ nên Phật tính trong con người chúng ta bị chìm khuất. Kênh Atula, kênh địa ngục, kênh ngạ quỷ, súc sanh một khi đã xuất hiện thì biến thế giới thành chiến trường, thành địa ngục, thành sa mạc đói khát, trôi nổi... khổ đau chẳng có điểm dừng.
Con người là động vật ác nhất trên quả đất nhưng cũng là loài có tình yêu thương rộng lớn nhất, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”... là một dạng Tình thương cao quý của con người. Đó cũng chính là thiên thần, là Bụt, là Đức mẹ bao dung...
Bạn có thấy những đứa trẻ nhà mình thích trèo lên cây để tự hái những chùm nhãn đầu mùa hơn là được mẹ mua cho rồi cứ thế bỏ vào miệng. Hay chúng ta cũng thấy những bậc vua chúa thời xưa dùng cung tên và những đại gia thời nay sắm riêng một khẩu súng để săn bắn thú rừng...  Đấy là chưa nói đến những trò chơi mạo hiểm như leo núi, chinh phục độ cao, đua xe ... Tinh thần hướng ngoại đã khiến xã hội chúng ta có những biến chuyển thật diệu kỳ. Diệu kỳ này được xét ở góc nhìn dục vọng.
Trong mỗi chúng ta có rất nhiều thứ quý giá, ta không chịu tìm kiếm nên cứ muốn lấy nó từ người khác. Trước khi thành Thiên đạo hay Phật đạo thì hãy làm tròn Nhân đạo. Nhân đạo không bắt chúng ta phải ăn chay, không bắt chúng ta phải diệt dục... điều cốt lõi của nhân đạo chính là đạo lí làm người, tình thương giữa con người với con người. Con người thời xưa đã xây cho mình rất nhiều cung vàng điện ngọc, tráng lệ nguy nga, nhưng cũng sáng tạo nên những dụng cụ giết người và tra tấn vô cùng khủng khiếp... nhân đạo đã đi một quang đường rất xa từ dã man đến văn minh, những điều tàn ác, dã man đã giảm đi. Quyền con người đã được thế giới đề cao, nhưng Đạo làm người phải xuất phát từ đời sống tâm hồn bên trong.
Gần đây, sự kiện ngày 7 tháng 7 năm 2013, tại khu vực Bãi Ngao thuộc địa bàn xã Hải Châu, Tĩnh Gia, Thanh Hóa có vụ xô xát trên khu vực tiếp giáp với địa bàn làng Mom, xã Quảng Nham, huyện Tĩnh Gia khiến 3 người chết dưới biển và nhiều người bị thương nói gì với chúng ta? Người trong một nước, một xã, một làng còn chém giết nhau để cạnh tranh lợi ích kinh tế thì “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc vẽ nên xuất phát từ cơ chế nào, ta hoàn toàn hiểu được.
Michael Shermer trong cuốn Sự tuyệt chủng của con người kinh tế đã mượn những lời trong tác phẩm Tặng Phẩm và Cặn Bã của nhà triết học Đức lỗi lạc Arthur Schopenhauer (1788 - 1860) làm lời đề từ cho cuốn sách của mình như sau: “Đàn nhím quây quần bên nhau để sưởi ấm trong mùa đông giá rét; nhưng khi những chiếc gai trên người chúng đâm vào nhau, chúng buộc phải tản ra... Sau nhiều lần sát lại rồi tản đi, chúng buộc phải tản ra... Tương tự, nhu cầu hình thành xã hội đã đưa con người đến gần nhau nhưng rồi bản tính gai góc và khó ưa lại đẩy họ ra xa nhau. Cuối cùng con người cũng hiểu cần giữ một khoảng cách vừa phải mới mong giao tiếp cùng nhau được, khoảng cách đó cũng chính là chuẩn mực của phép lịch sự và hành xử”. Trong thiên Dương Hóa của Luận Ngữ (một trong tứ thư của Nho giáo) Khổng Tử nói: “Tính tương cận dã, tập tương viễn dã” nghĩa là bản tính người ta vốn gần như nhau, chính thói quen, lối sống khiến người ta xa nhau. Do đó, vấn đề con người là vấn đề hàng đầu trong hành tinh của chúng ta.
Cứu một con người khó khăn biết bao nhiêu, nhưng tàn sát hàng chục, trăm, triệu người thì thật đơn giản trong thời đại hạt nhân này. Nếu vấn đề lòng nhân đạo không xuất phát từ bên trong thì mọi hoạt động từ thiện, cứu người của tất cả các tổ chức có lương tâm chỉ như một trò hề trong một vở hý kịch. Sinh mạng con người mỏng manh như trứng treo đầu gậy, vở tuồng quá lớn và huy động một lực lượng diễn viên quá đông, bi kịch chiến tranh là như vậy.
Không có sinh thì có diệt, Bụt dạy ta cách thảnh thơi chấp nhận vô thường. Nhưng cuộc sống nhân gian này chất chứa dục vọng từ thuở hồng hoang, bây giờ không nên đặt câu hỏi vật chất có trước hay ý thức có trước nữa, hãy thử đặt câu hỏi: con người có trước hay dục vọng có trước? Trả lời được câu hỏi này ta sẽ hiểu hơn về chính ta. Vì sao chúng ta lại sinh ra ở cuộc đời này nếu không phải ông bố và bà mẹ chúng ta muốn hoặc vô tình tạo ra. Để rồi khi chúng ta sinh ra, những bản năng sinh tồn, những thiết chế của kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng cùng với cả những quan niệm, tập tục, lề thói xã hội đã bắt chúng ta phải tuân theo, chúng ta khó cưỡng lại hoàn cảnh mà dần dần chúng ta lệ thuộc vào hoàn cảnh.
Có sự khác biệt gì đó đối với ý niệm và tôn chỉ của các nhà tu hành khiến họ xa rời cuộc sống đầy bon chen, cám dỗ và đau khổ của con người? Đơn giản vì họ không muốn trở thành một diễn viên trong một tấn kịch nhân loại ở trên, họ muốn tự làm chủ chính bản thân mình vì họ hiểu mình cần gì và mình sẽ được gì. Họ hiểu được mọi thứ... chẳng qua là tồn tại.
Chúng ta hoài nghi không dứt về nguồn gốc của chính mình, một số tôn giáo cho rằng vũ trụ này được sáng tạo nên (có thể đúng), số khác thì phủ nhận đấng sáng tạo (có thể sai) nghĩa là cái gì cũng có thể đúng hoặc sai theo từng góc nhìn. Trong cuốn Đợt Sóng Thứ Ba, Alvin Toffler đã có những băn khoăn rất thú vị và tất nhiên không thể nói đó là ngớ ngẩn, đó là việc liệu những chiếc robot, máy tính mà con người tạo ra chúng có biết chúng đang bị điều khiển hay không? Hay có bao giờ chúng ta tự hỏi liệu những nhân vật trong game AOE (Age of Empires - một loại trò chơi chiến thuật trên máy tính có tên gọi Đế chế qua các thời đại) có nhận thức được số phận của mình phụ thuộc vào những cậu bé, những sinh viên đang miệt mài đêm ngày với những chiến thuật chạy dân, chăn dân ra sao, bo nhà, thu hoạch lương thực, rong voi, lùa hươu như thế nào hay không?...  Tất cả như là cuộc sống được tái hiện trong nền văn minh con người, và tất nhiên đó là cuộc sống trong không gian ảo được game thủ thao tác trên bàn phím, con chuột và các mã lệnh hiện lên trên một chiếc mành hình. Bằng ngôn ngữ lập trình máy tính, các chuyên viên phần mềm có thể tạo nên hàng loạt các nhân vật có cuộc sống như con người mà tất cả chúng ta có thể chiêm lãm thông qua màn hình của chiếc máy tính. Liệu rằng, những nhân vật đó có biết chúng là một sản phẩm hay không? Có bao giờ chúng khám phá được một màng lưới kỳ ảo nào đã tạo ra chúng và cho chúng hoạt động như vậy?
Có lẽ chúng ta nên quay trở về hiện thực, trong game ảo có các ông trùm, các boss lợi hại thì ngoài đời thực cũng có những vĩ nhân, quan lớn. Dẫn dụ trên đưa ta đến một sự thực là, ta cũng như những nhân vật trong thế giới game ảo, chúng ta đang tự khám phá khả năng của chính mình, chúng ta đang tìm mọi cách để hiểu về chính mình và hiểu về vũ trụ.

THỰC TẠI VĨNH HẰNG

Từ chân trời không có gì đến Mặt trời vẫn mọc là một quá trình con người khám phá không ngừng trên con đường tư duy và nhận thức thế giới khách quan. Tự nhiên vẫn làm đúng quy luật muôn đời của nó, chúng ta luôn phụ thuộc vào tự nhiên. Không khí chúng ta thở, nguồn nước chúng ta uống, thực phẩm chúng ta ăn, năng lượng chúng ta nhận khi thiền... nó là gì nếu không phải là thiên nhiên. Vậy thiên nhiên cũng chính là chúng ta - một phần của thiên nhiên. Sự tiên đoán về ngày tận thế ngày 23 tháng 12 năm 2012 bảo rằng nhân loại sẽ bị hủy diệt (điều đó chưa xảy ra), vậy giả sử nó đúng thì giờ này chúng ta đang ở đâu? chúng ta cứu vớt được những gì? những thành tựu khoa học bấy nay chúng ta tạo ra có trở thành vô nghĩa? Rốt cuộc, chúng ta cũng chỉ biết chấp nhận.
Sóng thần, lũ lụt, động đất... cứ liên tiếp xảy ra. Những tiến bộ của chúng ta về khoa học kỹ thuật không cho phép chúng ta xây nên một hành tinh khác rồi đèo bồng nhau lên đó, tất cả những máy móc hiện tại mà chúng ta tạo nên đều cần có năng lượng để hoạt động và duy trì. Con chim xây tổ, con chuột đào hang...và con người xây những tòa cao ốc trọc trời. Mưa to, bão bùng làm tổ chim bị phá, nước lụt mênh mông làm ổ chuột bị ngập. Còn sản phẩm của con người có tính kiên cố cao hơn, khả năng thích nghi của con người tốt hơn nhưng đến một ngưỡng giới hạn nào đó con người cũng khó tránh khỏi tai họa. Khả năng dự báo đã khiến con người thoát khỏi nhiều sự cố đáng tiếc, thậm chí khi tham gia giao thông có người còn nói vui: “về nhà mới biết mình sống”. Thế nên nhận thức của chúng ta về bản thân mình và về thế giới khách quan còn vô cùng giới hạn.
Trong sự tồn tại về thân có sự tồn tại về tâm, trong cái tâm mà đôi mắt của ta không nhìn thấy có nỗi sợ hãi, dục vọng, nỗi cô đơn, sự bất nhẫn... điều này ta hoàn toàn cảm nhận được. Chúng ta vừa nói đến từ Cảm Nhận, chúng ta khoan hãy nói về sự cảm nhận mang tính chất giác quan (nghe, nhìn, động chạm) chúng ta hãy đi vào chiều sâu của sự cảm nhận ví như tại sao khi vừa gặp gỡ lần đầu với một người nào đó bạn cảm thấy có điều gì đó bon chen, ích kỷ, bẳn tính. Hay lí do tại sao khi giao tiếp với một vị chân tu bạn lại cảm nhận được sự thanh thoát và thánh thiện. Từ “cảm nhận” đã thoát ly khỏi những giác quan cụ thể, nó trở thành một thứ giác quan tổng hợp. Đó là kết quả của kinh nghiệm sống, của sự nhạy cảm và thậm chí là cái mà người ta hay nói: “giác quan thứ 6”. Chính giác quan này đã tác động đến cách nhìn nhận và chi phối cách chọn quan hệ của chúng ta là đề phòng cảnh giác hay hết mực tín yêu. Suy cho cùng tất cả cũng chỉ là giới hạn nhận thức trong từng giai đoạn cụ thể.
Nhưng dù có giới hạn nào đi nữa, trong bản thân con người vẫn sâu thẳm những nỗi cô đơn và sự sợ hãi, chúng ta muốn bầu bạn, chúng ta cần tâm sự và sẻ chia cho nhau những đau khổ, vui buồn. Như Robinson Cruso làm bạn với con chó của mình trên hoang đảo, như chàng phi công lạc trên bầu trời nghẹn ngào khi phát hiện ánh đèn của đồng loại trên đất liền, như người già làm bạn cùng cây gậy... Từ khi ra đời, có một thứ là cô đơnsợ hãi đã bủa vây lấy con người mà bấy nay chúng ta tìm cách để thoát khỏi nó. Đó là nhân loại tính, là bản thể luận. Và tất nhiên chiếc Laptop hay chiếc ôtô của bạn ở nhà, nó hoàn toàn không cần một “đứa thứ hai”, nó khác với đứa con đầu của bạn mong có em hay anh, chị. Chiếc ôtô thì chỉ cần đổ xăng, mở khóa và hoạt động cho đến khi cần sửa chữa và chiếc máy tính cũng chỉ cần cắm nguồn và nhấn nút Power cho đến khi nó cần gặp bác sĩ để xử lí sự cố... Sự cố và hỏng hóc của máy móc có thể thay thế bằng các bộ phận khác nếu nó không quá nghiêm trọng và không quá đắt tiền. Lãng phí là điều không nên. Nhưng nếu sự cố nghiêm trọng và linh kiện đắt đỏ so với giá của sản phẩm mới thì lý trí bảo ta nên đổi một cái máy mới. Điều đó khiến ta liên hệ đến bệnh tật trên cơ thể con người, không lẽ con cái của chúng ta cứ ho, sốt, cảm cúm, gẫy chân... thì ta lại mang bầu và sinh một đứa trẻ khác và vứt đám con bệnh hoạn này vào sọt rác? Nhưng nếu chúng mắc phải những căn bệnh hiểm nghèo, vô phương cứu chữa hoặc chỉ cứu được phần thực vật mà không cứu được phần người thì tốt nhất đừng quá đau khổ kiểu “trời đày” rồi than thân trách phận. Vấn đề chúng ta là sẽ thích nghi như thế nào và vượt qua nó ra sao, vấn đề chỉ là thời gian.
Nhưng nếu chúng ta tin vấn đề “hậu con người” nghĩa là tin vào phần linh hồn thì ta sẽ bớt đi đau khổ. Linh hồn ấy sẽ tự biết cách đi tìm cho mình một thân thể mới phù hợp với tần số giao động riêng và thích nghi với hoàn cảnh mới... Sự sống mới lại nẩy sinh. Đó là chuyện luân hồi, đầu thai, là quy luật của tự nhiên rồi. Sự thực là, nếu không có cơ thể khỏe mạnh, tâm lí bình thường thì sống kiếp người sẽ như một cực hình. Nếu chúng ta sống mà không có ích cho bất kỳ ai mà còn khiến người xung quanh cùng khổ thì hà tất níu kéo cỗ máy người đã hỏng hóc nặng nề ấy làm gì? Ta khoan chưa bàn đến chuyện những cỗ máy người bị đưa ra tử hình hoặc bị nhốt tù như thế nào.

THÍCH NGHI VỚI HOÀN CẢNH

Con người có sức chịu đựng phi thường, chẳng qua là con người thích nghi như thế nào về một thực tại đang diễn ra. Nhưng dù muốn nói thế nào, sự hiểu biết và giác ngộ khiến con người bớt đau khổ hơn khi gặp những sự việc diễn ra quá đột ngột, khi chưa kịp quen với hoàn cảnh mới.
Một lần tôi có dịp nói chuyện với mẹ Việt Nam anh hùng Phan Thị Nại (1928) tại xã Điện Bàn, Điện Ngọc tỉnh Quảng Nam - Trong chiến tranh mẹ đã chịu những sự tra tấn dã man của quân địch. Khi tôi hỏi: “trải qua bao nhiêu gian lao vất vả, thử thách. Cụ dũng cảm như vậy, chắc lúc ấy chẳng có điều gì làm cụ sợ hãi, liệu bây giờ có chiến tranh cụ có sợ không”? Một chút yên lặng - Cụ trả lời: “Sợ chớ! Sợ tai họa, sợ con cháu mình chiến đấu và có dành chiến thắng hay không, sợ chớ!” Câu trả lời của cụ làm chúng tôi ngạc nhiên và thấy mình quá non trẻ và bồng bột, chúng tôi không biết những đau khổ “nghiệm sinh” mà cụ đã trải qua. Chúng tôi lúc ấy chưa hiểu được an bình hạnh phúc là niềm mong mỏi tối hậu của con người. Ở thời bình, chúng ta sợ chiến tranh, chúng ta cầu nguyện quốc thái dân an, thế giới hòa bình và hữu nghị bởi vì... chúng ta chưa biết sẽ phải xoay sở với hoàn cảnh chiến tranh thế nào, chúng ta tỏ ra vụng về và yếu đuối hơn. Nỗi sợ hãi về tương lai giăng kín tâm hồn ta, sự thực con người ta vẫn thường sợ hãi khi nghĩ về ngày mai không như ý. Nhưng chính Niềm tin lại vực chúng ta dậy, chính niềm tin gieo hy vọng về hạnh phúc mới. Thế nên mới có sự anh dũng hiên ngang của anh Nguyễn Văn Trỗi, mới có những người lính “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” ra chiến trường bảo vệ biên cương dù “rải rác biên cương, mồ viễn xứ” vẫn nuôi ý chí bảo vệ tổ quốc thân yêu để dành “nước mắt cho ngày gặp mặt”, cho ngày đoàn viên. Sự thật là, nếu không vì hoàn cảnh đẩy đưa thì cũng chẳng ai muốn tạc vào thế kỷ “dáng đứng của người anh hùng ngã xuống đường bay Tân Sơn Nhất” làm gì.
Vấn đề của chúng ta là vấn đề của tồn tại và nó mang tính giai đoạn, chúng ta phải chấp nhận từng giai đoạn trôi qua dù nó ngắn hay dài, nhưng rồi thì nó vẫn cứ đổi thay không thể nào ngừng nghỉ. Đó là một sự chuyển hóa không ngừng. Một cuốn sách dài đến mấy cũng dừng lại ở một trang; một kẻ giết người hàng loạt cũng phải dừng lại sau một vụ án cuối cùng, cả nỗi đau về thân xác và tâm hồn cũng dịu dần theo năm tháng... Tất cả chỉ mang tính giai đoạn, như một kỷ niệm của cuộc đời. Tôi muốn dùng từ kỷ niệm cho sự ra đời và từ chết đi của mỗi con người. Đối với những người lạc quan và giác ngộ thì họ xem sự xuất hiện của mình trên cuộc đời cũng chỉ là một “chuyến du ngoạn xuống hành tinh” mà thôi. Thiên hạ và các Thánh nhân nói về những điều ấy nhiều rồi. Vì chúng ta nôn nóng và tham vọng nên không chịu hiểu người và không tự hiểu mình.

HƯỚNG NGOẠI KHOA HỌC VÀ HƯỚNG NỘI TÂM LINH

Cổ nhân hình như minh triết hơn chúng ta, vì chúng ta hướng ngoại nhiều hơn. Khi hướng vào bên trong chính mình thì với điều ta định nói ra thì cổ nhân cũng đã nói trước ta rồi. Nhưng chiếc máy bay mà ta ngồi thì các ngài Thích Ca, Giêsu, Khổng Tử, Lão Tử, Socrate, Platon, Aristole... chưa từng ngồi bao giờ. Thế nên nhiều lúc ta sai lầm, mụ mẫm, dại dột khi so sánh giữa quá khứ và hiện đại trong khi phải xem đó là một gian đoạn tiến bộ và nối tiếp không ngừng.
Thời giao thông liên lạc còn thô sơ, cảm thức “đất khách quê người, chân trời góc bể” trong tâm lí kẻ ly hương đã không còn, thay vào đó là vấn đề của đồng tiền có hay không? Nhiều hay ít? Mọi phương tiện đã giúp dục vọng của chúng ta rút ngắn khoảng thời gian chờ đợi. Thay vì một tuần hay vài tháng để nhận một phong thư thì giờ này ta chỉ cần một cú điện thoại, một Email hay ngồi chat qua internet, cụ thể hơn là chỉ cần một vài giờ đồng hồ thì người ở Hà Nội đã đến Cần Thơ, hoặc từ thành phố Hồ Chí Minh đã sang đến Paris của nước Pháp... phép thông thiên độn thổ trong thần thoại cũng chưa từng giúp được khoảng 800 người cùng lúc bay từ nơi nọ đến nơi kia bằng chiếc Airbus 380.
Nhưng hãy bình tĩnh lại..., hít thở sâu..., điềm đạm..., rồi thật nhẹ nhàng, nhoẻn miệng cười, thả lỏng cơ thể: Rốt cuộc thì chúng ta bay xa, đi nhiều như thế để làm gì nhỉ? Một số đã thám hiểm mặt trăng, nhưng rồi ta cũng phải trở về cuộc sống thường ngày bởi vì trong ta có một cuộc sống thường hằng, chúng ta muốn sống bên người thân yêu, chúng ta gắn bó với địa cầu của chúng ta từ nghàn kiếp, ta tìm trăm phương ngàn cách để cho cuộc sống này bớt đi nhàm chán phải vậy không?
Chúng ta vào trong bóng đêm rồi ngợi ca về ánh sáng lóe lên trong chớp nhoáng bởi vì nó khác thường, trong khi chúng ta ở giữa bầu trời đầy nắng mà không hề ngạc nhiên vì điều đó. Ta vẫn thường Vô Minh như vậy. Cái bình thường đưa chúng ta vào sự tẻ nhạt, chúng ta đã tạo ra hàng loạt sự bất thường để trang trải những ngày tháng nhàm chán và thiếu thốn mọi đường, tất cả không gì khác là dục vọng. Chúng ta đã tạo ra mọi thứ: từ tinh hoa đến cặn bã, từ ác quỷ đến thiên thần để rồi... chính chúng ta không thể kiểm soát tất cả mọi thứ mà chúng ta đã tạo ra. Như Chúa Trời đã thất vọng tạo ra con người, như những bà mẹ, ông bố sinh ra những đứa con ngỗ nghịch, như vũ khí hạt nhân mà chúng ta đã tạo ra... Cuối cùng, đến giờ, chúng ta vẫn chỉ tạo ra những chiếc robot.
Cổ nhân có câu “cha sinh con, trời sinh tính”, cha mẹ chỉ di truyền cho cái về mặt huyết thống mà thôi. Còn đời sống tâm hồn, tâm linh di chuyền theo cách nào? Người ta thường dùng từ hữu duyên để nói đến sự thừa kế về mặt tinh thần. Như Mạnh Tử đối với Khổng Tử, như Trang Tử đối với Lão Tử... nghĩa là sự kế thừa trí tuệ của người đi sau với người đi trước trên tinh thần Thầy và Trò. Đó có thể xem là một sự chuyển hóa tâm thức đa bội, có thể hiểu là tư tưởng của một bậc thượng sư đã có ảnh hướng nhất định nào đó đến thế hệ sinh sau. Sự kế thừa đó có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Nhưng dù thế nào, con người chưa thể sao chép ra con người (nhân bản) một cách hoàn hảo như chiếc máy photocopy đã làm với một văn bản gốc.
 Thiền sư Osho đã nói lên sự thật rằng, con người chính là một bộ máy tinh vi và cao cấp. Mặc dù khoa học hiện đại như Tây y bây giờ đã có những tiến bộ vượt bậc (tốt nhất là chỉ nên dùng từ tiến bộ hơn trước) nhưng những tác dụng phụ mà nó đem lại cũng nhiều hơn và nguy hiểm hơn. “Định nghĩa về khỏe mạnh chỉ có một nhưng bệnh tật thì có hàng triệu”. Khả năng duy trì sự sống của thân xác con người hoàn toàn có giới hạn, nhưng con người vẫn luôn khao khát một viễn cảnh về sự bất tử, trường sinh.
Năm 2012 Bộ Khoa học Nhật Bản đã đưa ra lộ trình nghiên cứu và phát triển ứng dụng tế bào gốc iPS từ phòng thí nghiệm đến ứng dụng lâm sàng trên người. Theo đó, sẽ tiến hành thí nghiệm việc áp dụng tế bào võng mạc được chuyển từ tế bào iPS trên cơ thể người, trong vòng từ 3 cho tới 5 năm tiếp theo sẽ nghiên cứu chế tạo các tế bào cơ cho tim, và trong vòng 10 năm sau nữa sẽ phát triển tế bào cho phổi và thận. Vậy cứ mỗi lần con người bị “hỏng hóc” các bộ phận trên cơ thể thì có thể thay thế bằng sản phẩm nhân tạo và dần dà con người sẽ như một cái máy, nó có thể sống đến hàng trăm năm thậm chí là bất tử với niềm tin vào công nghệ tế bào gốc. Máu cũng có thể thay, tủy cũng có thể thay, xương cũng có thể cấy... và cái quan trọng nhất: Bộ não người cũng được làm ra. Loài người đúng là loài vật thông minh nhất trên thế giới. Ban đầu các nhà khoa học nghĩ rằng sự thông minh này, đóa hoa của vũ trụ này có những thành tựu như vậy là do trọng lượng não của người to và nặng hơn rất nhiều so với các loài động vật khác. Nhưng trọng lượng não không nói lên nhiều điều vì não của loài cá nhà táng nặng những 7,8 kg trong khi não người trưởng thành chỉ nặng khoảng 1,361 kg. Nên nói, sự thông minh, trí tuệ, khả năng tư duy phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác.
Sự tiến bộ về y học nhân bản và tế bào gốc nói nhỏ với ta rằng: đàn ông không cần tinh hoàn và đàn bà chẳng cần buồng trứng. Nhưng một sự thật trớ trêu là: Tất cả những gì khoa học mô phỏng và bắt chước tự nhiên đều thua xa cơ chế hoàn hảo của tự nhiên. Thực tế, chưa có một nhà máy nào sản xuất ra máu, chưa có nhà máy nào sản xuất ra giác mạc, sản xuất ra não... thay vào đó là khả năng cấy, ghép, xin tim của người này gắn vào thân của người kia, xin thận của người này để ghép cho người khác. Tại sao Tây y lại làm mọi chuyện phức tạp lên như vậy? Vì mục đích của nó là làm cho con người sống lâu hơn, sống khỏe hơn hoặc bất tử như trong thần thoại. Nhưng bất tử để làm gì? Mục đích tối hậu của sự bất tử phải chăng là kéo dài thời gian trải nghiệm xúc cảm của con người vì “còn quá nhiều điều ta chưa biết”, “còn quá nhiều dục vọng” những “bữa tiệc vui không bao giờ dứt” và “khoái lạc đạt được theo cấp số nhân”...  Ta vỗ tay và reo ca cho một nền khoa học vĩ đại, nhưng cỗ máy nào sinh ra linh hồn? con người sẽ cấy ghép tế bào nào để sinh ra linh hồn, đời sống tâm lí? Một chiếc Latop không biết chạy trốn khỏi lũ lụt hay hỏa hoạn... nhưng gà thì biết chạy khỏi hiểm nguy.
Sau cùng, máy móc hiện đại vẫn là nô lệ của con người, chúng không thể trở thành con người hay động vật vì chúng là vô cơ. Khi ngắt điện, hết pin chúng sẽ thành một cục sắt, nếu muốn tạo một cỗ máy như con người thì lại phải làm ra hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn... để chúng tự sản sinh ra năng lượng. Thế thì có gì hoàn hảo hơn việc những ông bố cứ khoái lạc đi, những bà mẹ cứ mang bầu đi và sinh ra những con người khỏe mạnh thực sự, nếu nó ốm yếu thì thiên nhiên, cuộc sống sẽ tự đào thải.
Cấu trúc tinh vi mà con người biết đến bây giờ luôn có hai phần thô và tinh. Một chiếc máy tính không cài đặt phần mềm thì chỉ là cục sắt không khả dụng. Cũng như khi một người chết đi, thân thể vẫn còn nhưng tinh thần thì đã mất và thân thể đó sau mấy chục tiếng đồng hồ sẽ vữa ra, nó được mang ra nghĩa địa kèm theo những nghi lễ vùng miền long trọng hay qua loa, rồi được gửi vào lòng đất mẹ, hoặc táng theo cách nào đó... Đó chỉ là kỷ niệm của một sự tồn tại.
Trong thực tế, khi thể xác con người yếu kém thì tinh thần rất khó khăn để hoạt động hiệu quả, cũng như phần cứng của chiếc máy vi tính cấu hình thấp thì không thể tải được những nội dung và chương trình cao. Cách tốt nhất là nên tìm một thân thể khác hữu dụng hơn khi những níu kéo chữa lành của ta không có hiệu quả với cơ chế bệnh tật của mình. Ta sợ chết ư, ta sợ từ bỏ cuộc đời này ư, nỗi sợ ấy là do ta không tin có linh hồn hay đời sống sau khi chết, hoặc là gánh nặng tránh nhiệm của ta không có người thay thế, đảm đương... Như thế ta đã vô tình đánh mất niềm tin của chính mình, “chuyện đâu rồi cũng có đó”, nó không thế này thì nó sẽ thế kia, ta phải thảnh thơichấp nhận.
Có những người bị bệnh hiểm nghèo, khi mà những người mặc áo đồng phục màu trắng, cổ đeo ống nghe nói nhẹ với người nhà: “hỏi bác ấy muốn ăn gì thì cho bác ấy ăn...” hay có thể là cái “lắc đầu vẻ ngụ ý chỉ còn cách về nhà chờ chết”. Khuôn mặt của y học hiện đại chưa bao giờ méo mó hơn lúc này, nghĩa là niềm tin bị đổ vỡ, khi đó trong phút giây cầm chừng, có người đã niệm hồng danh Phật, Bồ Tát... mà thoát khỏi cái chết cận kề. Bấy giờ người ta lại củng cố niềm tin vào điều gì đó siêu nhiên, củng cố niềm tin về những đấng siêu hình có khả năng cải tử hoàn sinh kiểu Trường Xuân Chân Nhân mà trước đây họ đã xếp sau y học tân tiến rất nhiều lần, thậm chí không hề nghĩ đến. Thế nên, bấy lâu nay chúng ta cứ đi tìm bóng dáng của Bụt, Chúa Trời, Thánh, Tiên... để được chở che, nương tựa, để được sống hạnh phúc. Thế mà, ta quên mất, ta phải nương tựa vào chính mình nhiều hơn hết thảy, những thế lực khác chỉ cứu mình nhất thời còn tự mình cứu mình mới là mãi mãi. Ta cứ đi tìm phép màu, trong khi mọi phép màu đều nằm ở trong ta. Chúng ta hãy khơi sự minh triết giác ngộ đó lên bằng cách chú tâm, hướng vào con người bên trong của mình để tự hiểu mình để chuyển hóa thân tâm, con đường ấy gọi là Thiền.
Thiền sẽ giúp chúng ta hiểu được thế nào là tồn tại, thế nào là trống vắng trong ngoài, thế nào là an lạc tự tại. Nếu nhân loại hiểu được cách sống hạnh phúc thì có lẽ họ không cần kiếm tìm Thiên Đàng và Niết Bàn, Cực Lạc nữa. Bạn có thấy không? “Trái đất này là của chúng ta” mà chỉ một phút sân hận u tối nó có thể nổ tung bằng lượng hạt nhân do chính con người tạo ra để tự hù dọa và giết chết chính mình. Thiền sư Osho đã nói rất hay: “Chỉ có con người mới biết tự sát còn con vật thì không”. Chúng ta đang nói đến những vĩ nhân trong lịch sử, trong đó có cả những chính khách giết người không gớm tay, gây chiến sự và đau khổ cho nhân loại. Lịch sử không nói với chúng ta là họ đã ngồi thiền như thế nào? Số đông chúng ta không muốn tàn sát và giết chóc nhưng số ít đã có quyền lực kéo số đông vào trong chiến chinh và lửa đạn. Cũng giống như hành trình chiếm lấn của những con virut trước sự ngăn cản của hệ thống miễn dịch trong cơ thể mỗi con người. Chiến tranh vẫn thường nổ ra ngay trong cơ thể của chúng ta.
Bệnh của xã hội cũng như bệnh của thân thể con người, một đứa trẻ hư khiến gia đình phiền lòng, nhà trường và xã hội cùng phiền lòng – một tế bào bệnh ở bất kỳ bộ phận nào đều liên đới và ảnh hưởng đến các bộ phận khác. Trong công trình Súng vi trùng và thép (2005) của Jared Diamond và Trí tuệ của tế bào (2006) của Bruce Lipton dẫn chúng ta đến một nhận thức là ngay cả tế bào cũng có trí tuệ. Không hiểu con virut đã làm như thế nào mà ban đầu chỉ gây bệnh cho động vật giờ này có thể chuyển sang gây dịch hàng loạt cho con người. Chuyện này làm ta nhớ đến Steve Jobs - một trong hai người sáng lập tập đoàn công nghệ máy tính Apple, ông có cách nhìn rất lạc quan về tương lai, ông nói: “hãy để viễn cảnh kéo bạn đi” và quả thực chính viễn cảnh đã giúp con người tìm mọi cách khám phá và chinh phục hiện thực, đó là con đường hướng ngoại từ viễn cảnh bên trong. Đó là lí do vì sao, một cánh diều dưới con mắt của danh họa Leonardo da Vinci lại là ý tưởng cho anh em nhà Wright tạo ra chiếc máy bay đầu tiên vào năm 1903. Viễn cảnh, niềm tinquyết tâm đã biến từ không thành có, từ hão huyền trở thành hiện thực. Nghĩa là chuyển hóa từ ý niệm, tư tưởng thành vật chất hiện hữu. Có lẽ chúng ta sẽ hiếu kỳ tìm kiếm thông tin về chiếc điện thoại đầu tiên, chiếc vô tuyến đầu tiên hay chiếc máy tính đầu tiên- hoàn cảnh ra đời vào do ai sáng chế?... Việc đó ta làm hoặc không cũng chẳng sao vì nó không can hệ đến sự sống hằng ngày của chúng ta bây giờ. Nhưng điều mà tôi muốn nói với các bạn là: con người có viễn cảnh thì con virut cũng thế.

GIẤC NGỦ SÂU NUÔI DƯỠNG SỰ AN BÌNH

Tôi thật sự ngạc nhiên với những cây hoa cúc trong vườn, ngày hôm qua tôi vẫn không thấy có biểu hiện gì của sự nảy mầm, thế mà sau một đêm tôi đã thấy những cây con với những chiếc lá non xanh mướt. Điều gì đã xảy ra trong khoảng thời gian của màn đêm, chúng đã lớn lên trong màn đêm nhanh chóng đến kỳ lạ mà ta không biết. Giống hoa cúc này dưới ánh sáng dài ngày không thể ra hoa, chỉ trong điều kiện ngày ngắn đêm dài mới có thể phân hoá và tiếp tục trổ bông. Ở mỗi loại thực vật có nhu cầu về ánh sáng và nhiệt độ riêng nên chẳng có gì là ngạc nhiên. Điều mà tôi muốn nói ở đây là giá trị của bóng tối, sự vận hành của trái đất đã tạo nên ngày và đêm.
Màn đêm hay bóng tối thường gợi cho ta cảm giác cô độc hay ám chỉ đến điều mờ ám, đen tối. Bóng đêm và ánh sáng đem đến những cảm xúc khác nhau về cuộc đời. Có khi bóng đêm đồng lõa với nỗi sợ hãi, tội ác. Nhưng từ xưa đến nay, khi màn đêm buông xuống hầu hết nhân loại đều mong muốn một giấc ngủ sâu sau một ngày lao động vất vả. Bóng đêm phủ quanh chúng ta, ta cảm thấy mình phải nghỉ ngơi để lấy lại sự cân bằng năng lượng, để thần kinh và đôi mắt được thư giãn.
Có hai trạng thái nhắm mắt là khi ngủ và khi thiền, khi đó mi mắt đã che ánh sáng chiếu vào để chúng ta cảm nhận được màn đêm buông xuống, chúng ta muốn nghỉ ngơi và tìm vào chính mình. Người ta mơ về Thiên đường của Chúa và Niết Bàn của Phật... nhưng lại không ngạc nhiên về Giấc ngủ sâu của mỗi con người.
Có những giấc ngủ thật sâu, thật bình an, thức dậy nghe tiếng chim hót, tiếng suối chảy, tiếng âm thanh đường phố và những tiếng rao bán hàng mỗi sớm.... Thật kỳ lạ, giấc ngủ sâu đó không gợi lại cho ta một chút ấn tượng nào trong suốt thời gian ngủ, tâm hồn ta đã đi đâu? Sao nó chẳng hề nhận diện được sự có mặt của nó trong giấc ngủ. Khoảng khắc đó con người thật sự vô ngã và vô tri. Một người giàu sang quen sống trong nhung lụa hay người nghèo nàn trong manh chiếu tả tơi, từ tri thức đến nông dân, từ khôi ngô trang trọng đến xấu xí bần tiện ... ai cũng đều có Niết Bàn của riêng mình, đó chính là giấc ngủ sâu. Một giấc ngủ không mơ thấy thiên thần cũng như ác quỷ, một giấc ngủ đơn thuần chỉ là giấc ngủ. Thế nên khi ta bình thản mà nhìn vào một ai đó đang ngủ, họ thật hiền lành. Hiền như trái đất trong vùng đêm.
Các khoa học gia vũ trụ khẳng định vật chất tối và năng lượng tối là chiếm đến 95% khối lượng và năng lượng của vũ trụ, trong khi các vật chất bình thường, từ sao đến hành tinh, chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Ở đâu đó vang lên một ý niệm, chúng ta được sinh ra từ màn đêm. Chúng ta hướng ngoại nhiều rồi, đến khi ngồi thiền ta bắt đầu hướng nội. Mỗi lần nhắm mắt chưa ngủ được hoặc phiền muộn về điều gì chúng ta liền bị xáo trộn bởi hàng loạt những âm thanh và hình ảnh từ trong tư tưởng và ký ức. Mở mắt ra chúng ta tìm cách hướng ngoại, nhắm mắt vào chúng ta lại chìm vào tiếng gọi bên trong giống như màn đêm bao phủ hành tinh.
Màn đêm có cái gì đó hiền lành và dung thứ, ở đó tội lỗi được dấu đi, cái xấu được che đạy, bào thai của mẹ cũng như một màn đêm bảo vệ và nuôi dưỡng đứa con cho đến khi nó ra đời. Màn đêm thật hiền hòa và bao dung, chính vì thế tội ác và những điều xấu xa có chỗ ẩn nấp. Cũng giống như màn đêm của vũ trụ, màn đêm của mi mắt đã cho ta giấc ngủ, đã làm ta cảm thấy hạnh phúc và thảnh thơi hơn khi mệt mỏi, muộn phiền. Ở đây ta không liệt kê giấc mơ đẹp hay những cơn ác mộng vào trong phạm trù một giấc ngủ say.
     Khi chúng ta ngủ sâu, chúng ta không màng đến danh vọng, địa vị, tiền bạc, giận hờn,...Lúc ấy, chúng ta cũng không thể tự vệ trước kẻ thù, chúng ta không còn khoái lạc hay đau khổ, không còn giận hờn đố kỵ. Mọi thứ đó hiện diện sau giấc ngủ của ta. Có bao giờ ngồi thiền mà bạn thấy được sự an lạc như trong giấc ngủ không? Nghĩa là thiền đạt đến mức vô thức, đạt đến sự định tâm an lạc vô ưu, vô dục..
Ban đầu ngồi thiền bạn sẽ có cảm giác tê nhức, bạn bắt đầu nghĩ về sự đau đớn của thân thể, nghĩ về việc nên ngồi hay dừng lại? Bắt đầu phân tích thiệt hơn và sự lãng phí thời gian thay vì làm việc gì đó?. Bạn đừng dùng ngôn ngữ cao siêu hay những luận đề “tối thượng thừa” đề nói về thiền. Thiền là vô ngôn, thiền chỉ là một tên gọi dành cho rất nhiều cảm giác. Thậm chí bạn sẽ sai hơn là đúng khi cố phân tích và đinh ninh rằng thiền chẳng qua là để tịnh tâm, hay Thiền chỉ là để triền miên trong những suy tư đời sống thường nhật nhằm tìm ra một giải pháp... Như vậy dù bạn vẫn ngồi xếp bằng, thở đều nhưng là Thân thiền, Khẩu thiền nhưng Ý chưa thiền. Dẫu sao thì bạn cũng có một phần ba giá trị của buổi tập nếu bạn ngồi thiền theo trường phái nhân điện. Khi đó bạn vẫn thấy năng lượng chảy vào cơ thể bạn theo các luân xa được khai mở nhưng đồ rằng hiệu quả không cao.
Ngài Dasira Narada đã tìm ra phương pháp khai mở luân xa từ tha lực có tên gọi là trường sinh học. Nghĩa là đạt một trạng thái sinh học bền vững, ít bị đảo lộn hoặc gián đoạn. Ở đây chúng ta nói đến tính chất giai đoạn và tạm thời của thân thể vật lí con người. Khi các luân xa được khai mở, nó chỉ hữu dụng khi còn sống, vậy khi con người chết đi, thân xác tan rã, 7 luân xa còn ý nghĩa nữa không? Vậy trường sinh học là cái gì trường sinh? Thực ra môn học mang tinh thần trường sinh gắn với những thể dạng năng lượng khác của con người chứ không chỉ là thân thể vật lý. Khoan hãy nói đến thực tại vĩnh hằng của năng lượng. Ta hãy nói về cuộc sống đời thường và giá trị mà Thiền mang lại cho chúng ta.
      Mỗi người một cảm nhận và kinh nghiệm về thiền khác nhau, những cảm xúc giống nhau hoặc khác nhau nó đến sớm với người này mà cũng có thể đến muộn với người kia hoặc chẳng là gì cả ngoài màn đêm bao bọc.
Những phút đầu ngồi thiền bạn phải làm quen với sự cân bằng của cơ thể, vì nếu ngồi không cân bằng và không thoải mái sẽ khiến ta có cảm giác khó chịu, khiến ta loay hoay không tập trung. Sau giai đoạn đó, chúng ta sẽ gặp phải cảm giác đau, buốt, tê rát hoặc nhức nhối từ các cơ và các khớp xương. Nếu vượt qua được cảm giác về thân này, chúng ta sẽ dễ bề đi sâu vào cảm nhận của tâm thức. Chúng ta sẽ có những cảm nhận méo mó về chính thân thể mình so với lúc bình thường, chúng ta sẽ thấy có vầng sáng hiện lên, có những ảo ảnh biến hiện, đôi khi thấy thân thể mình bị kéo xuống nặng trịch, hoặc bay bổng lâng lâng, lúc thì nó nở ra to lớn, có lúc lại co lại rất bé... có rất nhiều cảm giác khác nhau. Việc của chúng ta là cứ bình thản ngồi, không vì bất cứ một ảnh tượng nào như Đức Phật, Tổ sư hay ma quỷ hiện ra mà sinh lòng sợ hãi hay chấp vào đó để cố lưu giữ, nuối tiếc. Phải luôn tỉnh thức và thả lỏng. Khi thiền, chúng ta không nên mong cầu sẽ đạt được thần thông hay khai mở được một bí tích nào đó, bởi như vậy là niệm dục vọng. Chúng ta phải nhận ra sự trống vắng trong - ngoài.
Chúng ta phải thấy nếu chúng ta thiền như vậy 2 năm, 10 năm hoặc 100 năm thì có điều gì thay đổi không? trong ngoài sẽ vẫn vắng lặng như hôm nay, như giờ phút này. Xã hội không có sự hiện diện của ta thì nó vẫn hoạt động bình thường, những ngôi sao trên trời thì vẫn sáng vào buổi tối dưới đôi mắt của ta ở dưới mặt đất này. Niết Bàn hay Cực Lạc là cái gì đó ta còn chưa dám tin là có thực, còn giấc ngủ sâu, ta sẽ dễ cảm nhận được thôi. Và... Sau giấc ngủ là Thiền.
Khi ta ngồi thiền 2 tiếng, 3 tiếng hoặc lâu hơn, chỉ cần một sự cố nảy sinh làm dứt đoạn trạng thái tập trung cao độ của mình, chúng ta sẽ thấy sự nhàm chán và vắng vẻ xảy ra vì dòng năng lượng tinh thần bị đứt đoạn, ta lập tức muốn mở mắt ra vì biết nhắm mắt mãi như thế cũng chẳng ích gì, ta lại sinh tâm hướng ngoại và có thể buổi ngồi thiền kết thúc. Điều đó không có đúng hoặc sai mà tùy thuộc vào ý niệm của hành giả? Phải trả lời cho mục đích của mình: “thiền để làm gì”. Để chữa bệnh hay giác ngộ hay là cả hai. Đối với tôi, Thiền để có sự an lạc.
Khi chúng ta an lạc được khi thiền, thì cố gắng giữ được trạng thái ấy trong đời sống hằng ngày. Thiền tông gọi đó là định. Khi nào chúng ta biết làm chủ hơi thở của mình thì chúng ta sẽ thay đổi được cảm xúc bất ổn tác động vào bên trong. Hãy hít thở sâu, mắt trìu mến, miệng mỉm cười và bỏ qua những tranh luận và ngợi ca không cần thiết. Bạn sẽ tự hiểu tính nóng nảy không còn cần thiết, bớt luận bàn thị phi vì nó đem lại phiền toái, bạn sẽ hiểu được rằng phân tích so sánh góp phần làm lệch lạc cách nhìn về những hiện tượng khách quan.

Hãy bình tĩnh học cách hít thở, mỉm cười và gật đầu. Điều gì cũng đúng theo cách của riêng nó. Đồng thời, bạn hãy tự khơi dậy sự tích cực và tươi sáng ngay trong những hoàn cảnh tiêu cực nhất. Khi đó bạn sẽ thấy sự thú vị nằm trong cách mà bạn thưởng thức hương vị cuộc sống. Nếu một người vừa qua đời bạn hãy nghĩ người đó sẽ có sự tái sinh hay tiến hóa, khi bạn thấy một đứa trẻ vừa sinh ra bạn hãy nghĩ nó đang hoàn thành một sứ mệnh cao quý hay khi nghe con Họa mi hót thì hãy cho rằng nó đang hót cho bạn, thấy con chó sủa thì thấy nó làm đúng nghĩa vụ với chủ nhà... nghĩa là đem cách nhìn tích cực và lạc quan thẩm thấu vào vạn vật. Khi đó bạn sẽ thực sự bình an. 

Không có nhận xét nào: