Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

Chỉnh Ca và cơ Duyên với Phật giáo


Chỉnh ca bị thuyết phục bởi giáo lí nhà Phật. Phật giáo rất minh triết khi khuyên con người ta về lẽ “vô thường” và rằng: Hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, sân, si… làm người ta lu mờ tăm tối gọi là “vô minh”, nếu như Nho giáo khuyên con người “tồn tâm dưỡng tính” Lão giáo khuyên“rèn tâm luyện tính”thì Phật giáo  khuyên con  người “minh tâm kiến tính”. Để hiểu được Phật giáo thì hãy sống với Nhị giáo kia trước, cũng giống như một người giác ngộ không phải mới sinh ra là thành Phật, Bồ tát mà trước hết phải sống, hưởng thụ (từng trải): biết thế nào là khoái cảm, sung sướng, no đủ, mãn nguyện, thiếu thốn, thèm khát, ước ao… (Thân) biết thế nào là hạnh phúc, an ổn, thương yêu, quan tâm, chia sẻ, dằn vặt, ăn năn, hối hận, đau buồn… (Tâm). Bản thể luận gồm Thân và Tâm, thân có trải thì tâm mới nghiệm (hiểu), thế cho nên đời một Bồ Tát trong nhiều kiếp: là đàn bà, đàn ông, là người đồng tính, là trẻ con… có khi yểu tử, có khi mãn tử, có khi oan khuất… điều quan trọng là “sự từng trải trong nhiều kiếp” để rút ra sự thực cồng kềnh phức tạp trong cuộc đời con người.
Nhưng với mắt thánh ta thấy cõi người chỉ có 3 dạng chung: SƯỚNG – KHỔ - TRUNG DUNG (vừa sướng vừa  khổ).
Mục đích của Phật giáo hướng con người đến Từ Bi và Hỉ Xả nghĩa là đạt được cái chân tâm và “quên cái vui cũng như loại cái buồn ra khỏi kiếp vô thường” muốn có được trạng thái đó chỉ có một phương thức là “tĩnh” vì nếu “động” mà muốn tồn tại ắt ta phải có sự tác động, tương tác cùng với xã hội (mà xã hội thì có đủ loại) do đó Phật khuyên “tâm là tù, tù là nhà ra khỏi nhà là ra khỏi tù nên mới có chữ “xuất gia” vì khi đó không bị gán vào bổn phận và trách nhiệm, vì rằng mưu sinh và tồn tại khiến người ta làm phương hại đến kẻ khác, chúng sinh khác.
Vậy giả thuyết ai cũng xuất gia đi tu thì sao, theo thuyết tuyệt đối (không lấy vợ sinh Chỉnh Ca) thì chẳng phải xã hội sẽ bị tuyệt diệt sa. Trong thực tế không phải ai cũng dám từ bỏ những “sự quyến rũ và nghĩa vụ làm người cùng tất cả các quan niệm “kinh bang tế thế, ái quốc yên dân” Có thể nói rằng người phàm tục sinh ra là có tính tham và ham: “Tài, Tình và Tiếng” vì mong cứu con người thoát khỏi bể khổ mê mờ ấy và các vị bồ tát rất khó đến cõi Như Lai nhập Niết Bàn vì còn phải phổ độ chúng sinh như đã hồi hướng về ‘chánh đẳng chánh giác”.
Phật bảo với tôi rằng, này Chỉnh Ca: “diệt thì đã sao, tất cả sẽ chuyển sang một kiếp sống khác không vướng phải khổ đau như cõi ta bà, súc sinh, ngạ quỷ nữa. Phật bảo với Chỉnh Ca rằng: “nếu ai cũng hiểu được như con thì ta vốn dĩ không cần phải có mặt trên đời mà cũng không phải nhọc lòng đến chân trời góc bể mà thuyết lí, giảng đạo làm gì, có điều: vận động thì bất tận nhưng nhiệm vụ của Tam bảo là điều hướng sự vận động ấy theo con đường đúng đắn (theo hướng giải thoát) mới chính là giáo lí của ta”.
Có lần Phật còn bảo với Chỉnh Ca rằng: “con người từ khi biết xấu hổ, biết nhân nghĩa, tôn ti” thì cũng đã nhận thức được sự hữu hạn của kiếp người, họ than thân “sao trời còn mãi, đất còn mãi mà con người lại hữu hạn”, Lão tử bảo là “sở dĩ trời còn mãi, đất còn mãi là vì nó không sống cho nó” mà vì muôn sự sống khác. Còn Phật truyền ý niệm rằng “cái con người hữu hạn trong hoàn cảnh này, thực tế là vạn vật đó thôi chứ không chỉ là con người nói riêng. Tất cả chúng có điểm chung là “hữu sắc tướng”, cấu trúc của nó là các hạt cơ bản “càng dao động chậm thì sắc tướng càng dễ quan sát và càng rõ” còn cõi dao động mạnh hơn, thanh thoát hơn thì mắt tục không còn quan sát được nữa.
Trên một chuyết bay từ Hà Nội vào Buôn Ma Thuột vào lúc 14h30 ngày 22 tháng 9 năm Tân Mão 2011 nhìn về phía Tây Chỉnh Ca thấy một vầng hào quang ngũ sắc sáng rực rất lớn trong khi phía Đông, Nam và Bắc mây phủ kín trời, khi đó Chỉnh Ca đã nhắm mắt và quán tưởng mình đến bên Đức thế tôn bái lạy và niệm “Nam mô bổn sư thích ca mâu ni phật” từ đó lòng thành kính Phật giáo càng sâu, tâm càng thấy yên ổn hơn rất nhiều. Tuy nhiên Chỉnh Ca có hai vấn đề luôn muốn hỏi Phật (Phật chỉ mỉm cười chẳng nói gì cả) hiện tại Chỉnh Ca đã “ăn chay trường” được một tháng, từ nhỏ đến giờ chưa sát sinh bất cứ con vật lành nào, nên ăn chay với Chỉnh Ca thực hiện khá dễ dàng. Tuy nhiên có điều mâu thuẫn mà Chỉnh vẫn chưa ngộ ra trong giáo lí Phật học đó là: Phật khuyên người ta tu để dứt luân hồi sinh tử nhưng tại sao lại cầu nguyện cho người quá cố Siêu thoát để tái sinh vào kiếp người (vào một gia đình, vào một đôi nam nữ đang có quan hệ khởi sinh – tinh trùng và trứng). Vậy siêu thoát đồng nghĩa với tái sinh? Mà tái sinh lại là luân hồi? Chỉnh ca (vị thần bảo hộ của tôi) bảo với tôi rằng: “Đúng nhưng không hẳn “, “do nghiệp cảm người ta có thể đầu thai làm người phàm, con vật, hoặc đầu thai vào các cảnh giới cao thượng khác mà mắt tục không thấy. Cõi trời cũng có sự sinh vậy, cõi Phật cũng có sự sinh vậy, nhưng không cần phải qua trạng thái sắc tướng mới hóa sinh ra. Nghĩa là “một người phụ nữ có thể hít phải một tinh khí, hay ướm thử vào một bước chân cũng có thể hoài thai và sinh ra quý tử đó thôi. Giống như thần thoại về Đào tiên 1000 mới nở 1 hoa, 3000 năm mới đậu 1 quả, 9000 năm mới chín vậy. Chỉnh ca còn bảo người đời thường hay sinh ra ảo tưởng và mộng niệm, ảo niệm.
Vấn đề thứ hai là “Làm sao mà biết được có bao nhiêu cảnh giới trong vũ trụ này, sự hiểu biết thì hữu hạn nhưng những sự hiểu biết cộng lại thì vô hạn”. Khả năng đó chỉ thấy ở con người, cũng như con cá Trắm, cá Chép, cá Mè… (nước ngọt) không thể có một cuộc gặp với con cá Mập, cá Thu, con Sứa biển (nước mặn)… mà dẫu có gặp nhau cũng chẳng tạo nên cái gì. Điều đó khác với con người: Dù ở Úc châu, Phi Châu, Á châu… nếu có tham vọng gặp gỡ thì một chuyến tàu, một chuyến bay… họ có thể gặp một người cho dù người đó ở đâu, chỉ cần cho một địa chỉ cố định, một bên đến và một bên chờ và mang theo một mục đích của cuộc gặp. Như vậy con người hơn con vật ở chỗ biết tạo điều kiện cho mình, việc tu cũng như vậy. Đó là một điều kiện để diện kiến nhiều hình tướng có mức độ dao động nhanh và thanh thoát hơn ở cõi cao hơn. Trong thực tế có bốn cảnh giới chính trong tất cả các cõi giới dù chủng loài phức tạp và phong phú hơn rất nhiều gồm:
- Cảnh giới Niết Bàn  (thường, lạc, ngã, tịnh gắn với Tuệ) – Cảnh giới ngoài cảnh giới
- Cảnh giới cao thượng (cứu khốn, phò nguy, thanh thoát gắn với Phước),       
- Cảnh giới tu tập (trì giới, tinh tấn, giới hạnh đầy đủ gắn với Duyên),
- Cảnh giới đọa đày (đau khổ, đày ải bởi thân - tâm gắn với Nghiệp)- Cảnh giới trong cảnh giới
Trong mỗi cảnh giới lại chia ra nhiều cấp. Nhưng đến cảnh giới càng cao thì các cấp càng giảm dần, vì rằng “thiên đường mà còn có chúa thì chưa phải là thiên đường, thiên đường là nơi ở đó ai cũng là chúa hoặc ngang với chúa, cũng như Đức thế tôn đã nói hàng vạn, hàng muôn vị Như Lai ở khắp các cõi, họ có điểm chung là chứng được “niết bàn” nhập vào “cõi an tịnh”.  

Không có nhận xét nào: