Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

Nhà Thơ đạt giải Nobel văn học 2011 - Tomas Transtromer

       Nguồn: Tienve.org
      TOMAS TRANSTRÖMER sinh năm 1931 tại Stockholm, Thụy-điển. Cho in tập thơ đầu tay, 17 bài thơ, vào năm 23 tuổi. Từ ấy tới nay (2004), ông đã có thêm khoảng 13 tập thơ nữa. Tranströmer đã được tặng nhiều giải thưởng quốc tế, trong đó có Giải Petrarch của Đức (1981), Giải Bonnier về Thơ (Thụy-điển, 1983), Giải thưởng Lớn của Hội đồng Bắc Âu (1989), Giải Neustadt International (1990), và nhiều giải khác của Thụy-điển, Đức, Slovaquie, Macédoine, Ý, Trung-hoa lục-địa, Nhật-bản,… Ông được coi như nhà thơ Thụy-điển xứng đáng nhất đối với Giải Nobel Văn chương (mặc dù Thụy-điển ít khi trao giải này cho các công dân của mình!). Joseph Brodsky nói rằng mình đã mượn của Tranströmer nhiều ẩn dụ; Bắc Đảo “thú nhận” rằng Tranströmer đã ảnh hưởng sâu xa tới thơ mình... Thơ Tranströmer đã được dịch ra 55 thứ tiếng trên thế giới. Trong cuộc sống bình thường, Tranströmer là một nhà tâm-lý-học chuyên nghiệp.


Bản dịch các bài trên dựa theo các bản Anh văn của nhiều dịch giả trong tuyển tập thơ Tomas Tranströmer, Selected Poems 1954-1986, The Ecco Press, New York, 1987 và bản Pháp văn của Jacques Outin trong Tomas Tranströmer, Baltiques, Œuvres complètes 1954-2004, nxb Le Castor Astral và Poésie/ Gallimard, Paris, 2004. Ở đây, tôi xin được ghi lời cảm tạ nhà thơ Chân Phương, người đã cung cấp cho tôi các tư liệu bằng Anh văn. (DC.)

(Lưu ý: Bản dịch này thay thế tất cả các bản dịch T. Tranströmer đã có của DC.)

GỬI NHỮNG NGƯỜI BẠN Ở BÊN KIA MỘT BIÊN GIỚI

I

Tôi đã viết cho các bạn thật ít ỏi. Nhưng những gì tôi không thể viết
đã phồng lên và phồng lên như một khinh khí cầu kiểu xưa
và cuối cùng trôi đi qua bầu trời đêm.

II

Lá thư lúc này ở nơi người kiểm duyệt. Y bật đèn.
Trong ánh sáng chói chang những chữ của tôi bay lên như những con khỉ trên tấm song sắt,
rung lách cách, dừng lại, và nhe răng.

III

Hãy đọc giữa những hàng chữ. Chúng ta sẽ gặp nhau trong 200 năm nữa
khi những máy vi âm trên vách tường khách sạn bị quên đi
và rốt cuộc có thể ngủ yên, trở thành những giống tôm cua hóa thạch thời nguyên thủy.

(Những lối mòn, 1973)


CÁC CÔNG DÂN

Vào đêm sau tai nạn, tôi đã nằm mơ thấy một người đàn ông mặt rỗ
đang hát ngoài con hẻm.
Ấy Danton!
Chứ không phải kẻ kia, không — Robespierre không có những cuộc đi dạo ấy.
Robespierre mất một tiếng đồng hồ buổi sáng vào trang điểm
và hiến cho Dân chúng phần còn lại trong ngày.
Ở thiên đường của châm biếm, giữa những thứ máy móc đạo đức.
Danton —
hay kẻ mang mặt nạ ông —
bước đi như thể đi kheo.
Tôi đã thấy khuôn mặt ông từ dưới thấp:
như một mặt trăng lỗ chỗ
nửa chiếu sáng, nửa buồn thảm.
Tôi đã muốn nói một điều gì đó.
Một khối nặng lớn đè trên con tim, khối nặng
khiến đồng hồ chạy,
xoay những cây kim — Năm I, Năm II...
Một mùi nhức nhối như mạt cưa trong chuồng cọp.
Và — như vẫn trong mơ — không có mặt trời.
Nhưng các vách tường lóe sáng
nơi những con hẻm uốn cong
chạy xuống phía phòng đợi, gian phòng đã uốn cong,
phòng đợi nơi hết thảy chúng ta. . .


LỐI ĐI NGANG ĐƯỜNG CÓ HÀNG ĐINH

Gió lạnh buốt đập vào mắt, và hai hay ba mặt trời
nhảy múa trong ống kính vạn hoa của nước mắt, khi tôi băng qua
con đường mình quá quen biết này,
nơi mùa hè Groenland* sáng lên từ những vũng tuyết.

Cuộc sống mạnh mẽ của con đường xoay vần xung quanh tôi;
nó chẳng nhớ gì hết cũng chẳng thèm muốn gì hết.
Thât xa dưới hàng xe cộ, thật sâu dưới lòng đất,
khu rừng sẽ sinh ra còn lặng lẽ đợi chờ trong một ngàn năm nữa.

Đột nhiên, tôi thấy dường như con đường đang chăm chú nhìn tôi.
Thị lực của nó quá kém cỏi khiến chính mặt trời
cũng chỉ còn là một cuộn chỉ màu xám trong không gian tăm tối.
Nhưng trong giây lát này tôi được rọi sáng! Con đường đã nhìn thấy tôi.

(Hàng rào sự thật, 1978)

---------------------
* Groenland, đảo Đan-mạch, ở về phía bắc châu Mỹ, phần lớn phủ đầy băng. Bản dịch này “phối hợp” cả hai bản Pháp và Anh! (ND.)


KỂ TỪ THÁNG BA 79

Mỏi mệt vì hết thảy những kẻ tới với những chữ,
Những chữ chứ không phải một ngôn ngữ
Tôi đã ra một hòn đảo tuyết phủ.
Nơi hoang dã không có chữ.
Những trang trắng mở ra khắp phía!
Tôi bắt gặp dấu vết những móng chân hoãng trên tuyết.
Ngôn ngữ chứ không phải những chữ.

(Phố chợ hoang dã, 1983)


ĐƯỜNG PHỐ Ở THƯỢNG-HẢI

I

Có nhiều người trong công viên đang đọc con bướm trắng.
Tôi yêu con bướm vườn cải bắp đó như thể ấy chính một góc của sự thật phất phơ bay.

Vào hừng đông những đám đông hối hả khởi động cái hành tinh lặng lẽ của chúng ta.
Thế rồi công viên đầy những người. Với mỗi người là tám khuôn mặt nhẵn bóng như ngọc, cho mọi tình thế, để tránh nhầm lẫn.
Lại với mỗi người là khuôn mặt vô hình nọ phản ánh «một điều gì mà ta không nói tới.»
Một điều gì ló ra trong những lúc mỏi mệt và cũng nhức nhối như một hớp rượu Rắn lục với dư vị lợn gợn dài lâu.

Đàn cá chép dưới ao luôn luôn chuyển động, chúng bơi trong lúc ngủ, chúng là một mẫu mực cho những kẻ tin: luôn luôn chuyển động.

II

Lúc này là đúng ngọ. Đồ giặt phất phơ trong cơn gió biển xám thật cao bên trên những người đạp xe
đang tới như những đàn cá lớn chật cứng. Hãy để ý những mê lộ ở ngang hông!

Vây quanh tôi là những chữ viết mà tôi không thể thông dịch. Tôi hoàn toàn, hoàn toàn mù chữ.
Nhưng tôi đã trả những gì tôi phải trả và tôi có những biên nhận cho mọi sự. Tôi đã thu thập biết bao tờ biên nhận không đọc được.
Tôi là một cội cây già với những chiếc lá héo hắt còn đeo và không thể nào rơi xuống đất.

Và một cơn gió mạnh từ biển khiến rì rào hết thảy những biên nhận này.

III

Vào hừng đông những đám đông lê bước khởi động cái hành tinh lặng lẽ của chúng ta.
Chúng ta hết thảy đều «lên tầu» trên đường phố, đường phố chật ních như trên «boong» một chiếc phà.
Chúng ta đi về đâu? Liệu có đủ chén uống trà không? Chúng ta có thể coi như mình may mắn vì đã «lên đường» kịp thời!
Ta ở cách sự phát sinh «chứng sợ những nơi đóng kín»* cả ngàn năm.
Đằng sau mỗi người bước đi ở đây lơ lửng một cây thập tự nó muốn đuổi kịp chúng ta, vượt qua chúng ta, nhập với chúng ta.
Một điều gì đó nó muốn lẻn tới phía sau chúng ta, vừa bịt mắt chúng ta vừa thì thào, «Đoán coi ai?»

Chúng ta có vẻ gần như hạnh phúc ở ngoài nắng, trong lúc chúng ta chảy máu đến chết vì những vết thương mà chúng ta không hay biết gì hết.

-----------------------
* «claustrophobia» trong bản Anh văn. (ND.)


AIR MAIL

Đi tìm một thùng thư
tôi mang cái phong bì qua thành phố.
Con bướm đi lạc này bay chập chững
trong khu rừng bao la của đá và bê-tông.

Tấm thảm bay của chiếc tem-bưu điện
mấy chữ loạng choạng ghi địa chỉ
hệt như sự thật của tôi được niêm lại
lúc này lượn là bên trên đại dương.

Đại tây dương ánh bạc và bò sát.
Những hàng rào mây. Con tàu của các ngư phủ
tựa cái hột ô-liu mà ta nhổ ra.
Và vết sẹo lợt lạt của lằn nước.

Công việc tiến hành thật chậm rãi ở dưới thế này.
Tôi thường liếc trộm về phía đồng hồ.
Trong im lặng ham hố
những bóng cây trở thành những con số tối tăm.

Sự thật nằm trên đất
nhưng không ai dám nắm lấy.
Sự thật ở ngoài đường phố.
Và không ai biến thành của mình.

(Cho những người sống và những người chết, 1989)


THÁNG TƯ VÀ IM LẶNG

Mùa xuân thật vắng vẻ.
Một cái hố bằng nhung tối lại
bò sát bên tôi
không tự ngắm mình.

Cái duy nhất lấp lánh
là những bông hoa vàng vàng này.

Chiếc bóng của tôi mang tôi đi
như một cây vĩ cầm
trong cái hộp đen.

Tất cả những gì tôi muốn nói
loáng lên ngoài tầm
như đồ bạc
nơi người cho vay nặng lãi.


Ở VƯƠNG QUỐC CỦA BẤP BÊNH

Viên chủ sự nghiêng mình vẽ một cây chữ thập
và đôi khuyên của y dao đông như những thanh kiếm của Damoclès.

Tựa như một con bướm có đốm vô hình trên mặt đất
thằng quỷ lẫn với tờ báo trải ra.

Một chiếc nón sắt không ai đội đã nắm quyền.
Con rùa-mẹ bỏ đi, bay đi dưới những lớp sóng.

(Chiếc gông-đôn tang tóc, 1996)


NHỮNG MẶT TIỀN

I

Ở mút cùng con đường tôi nhận ra quyền bính
và hắn cũng tựa như một củ hành
mà những lớp mặt chồng chất
tách dần ra...

II

Nửa đêm.. Các nhà hát vãn người.
Các từ bừng cháy trên những mặt tiền.
Sự huyền bí của chữ nghĩa vẫn không lời giải đáp
chìm sâu vào cái nhấp nháy lạnh lẽo này.


THÁNG MƯỜI MỘT

Khi tay đao phủ buồn chán, y trở thành nguy hiểm.
Bầu trời phừng cháy cuộn lại trên chính mình.

Người ta nghe những tiếng đấm đá từ xà-lim này tới xà-lim khác
và không gian tràn tới từ đất giá băng.

Một vài tảng đá lấp lánh như những vành trăng tròn.


TRỜI BUÔNG TUYẾT

Những tấm bảng chỉ dẫn
mỗi lúc một nhiều
khi ta lại gần một thành phố.

Ánh mắt của hàng ngàn con người
ở xứ của những chiếc bóng dài.

Một cây cầu tự tạo
từ từ
ngay trong không gian.

(Những bài thơ ngắn, 2002)


XI*

Điều khải thị.
Cây táo trăm năm.
Biển đã gần.

*
Biển là một bức tường.
Tôi nghe hải âu kêu —
chúng ra hiệu cho ta.

*
Gió của Trời sau lưng.
Tiếng nổ tới không ồn ào —
một giấc mơ quá dài lâu.

*
Im lặng màu tro.
Người khổng lồ xanh qua trước mặt tôi.
Gió biển hiu hiu lạnh.

*
Cơn gió mênh mang và yên hàn
của thư viện biển.
Nơi tôi có thể nghỉ yên.

*
Những người-chim.
Những cây táo đương hoa.
Niềm bí ẩn lớn.

(Niềm bí ẩn lớn, 2004)

---------------------------

Cơn bão

Người đàn ông trên một lối đi bộ bỗng nhiên gặp cây
sồi cổ đại như một con nai sừng tấm hoá đá với
cặp sừng khổng lồ nổi lên trên tường thành màu lục đậm
          của đại dương mùa thu.

Cơn bão từ phương bắc. Ðã gần đến lúc quả
thanh hương trà chín tới. Thao thức trong đêm hắn
nghe thấy những chòm sao xa phía trên cây sồi
          giậm chân trong chuồng.



Người đàn ông bị đánh thức
bởi một bài hát phía trên mái nhà

Sáng. Mưa tháng Năm. Thành phố vẫn im lìm
như túp lều của một người chăn cừu. Ðường sá im lìm. Và trên
trời một động cơ máy bay đang ầm ầm màu lục hơi xanh lơ.—
          Cửa sổ mở.

Giấc mơ của người đàn ông đang ưỡn người ngủ
trong giây phút đó trở thành trong suốt. Hắn trở mình, bắt đầu
mò mẫm dụng cụ của ý thức hắn—
          gần như trong không gian.



Kyrie

Thỉnh thoảng cuộc đời tôi mở to mắt trong bóng tối.
Một cảm giác về những khối người xô đẩy mù quáng
qua đường phố, một cách khích động, đi về một phép lạ nào đó,
trong khi tôi nằm đây và không ai trông thấy tôi.

Cũng giống như một đứa trẻ thiếp ngủ trong khiếp sợ
lắng nghe tiếng đập nặng nề của tim nó.
Trong một lúc lâu, thật lâu tới khi bình mình đặt ánh sáng vào ổ khoá
rồi cánh cửa của bóng tối mở ra.



Cặp vợ chồng

Họ tắt đèn đi, và quả cầu trắng của nó rực lên
trong giây lát rồi tan ra, như một viên thuốc
trong một cái ly của bóng tối. Rồi một cuộc nổi dậy.
Những bức tường khách sạn đâm lên bóng đêm cõi trời.

Những cử động của họ yếu dần, và họ ngủ,
nhưng những ý nghĩ thầm kín nhất của họ bắt đầu gặp gỡ
như hai màu gặp gỡ và loang vào nhau
trên tờ giấy ướt trong bức vẽ của một cậu học trò.

Trời tối và yên tĩnh. Tuy nhiên thành phố đã tới gần
đêm nay. Với các cửa sổ của nó đóng lại. Nhà cửa kéo tới.
Chúng đứng chen chúc và chờ đợi rất gần,
một đám đông người với những khuôn mặt trống rỗng.



Cái cây và bầu trời

Cái cây bước quanh trong cơn mưa
đi qua chúng ta trong màu xám ướt át.
Nó có một việc phải làm. Nó nhặt sự sống ra khỏi cơn mưa
như một con sáo trong vườn anh đào.

Khi mưa vừa dứt, cái cây cũng ngừng.
Nó chỉ đứng đó, không động đậy trong những đêm quang đãng,
chờ y như chúng ta chờ tới cái thời điểm đó
khi những bông tuyết tự quăng mình ra không gian.



Một đêm đông

Cơn bão đặt môi nó vào căn nhà
     và thổi để làm một tiếng động.
Tôi ngủ không yên, trở mình, với mắt
     nhắm đọc cuốn sách của cơn bão.

Nhưng mắt đứa trẻ mở lớn trong bóng tối
     và cơn bão khóc thút thít cho đứa trẻ.
Cả hai thích xem bóng đèn đong đưa.
     Cả hai đang ở nửa đường đi tới tiếng nói.

Những cơn bão có tay như trẻ em và có cánh.
     Ðoàn xe vùng chạy về phía Lapland
và căn nhà cảm nhận được những chùm đinh
     giữ những bức tường của nó lại với nhau.

Ðêm yên tĩnh bên trên tầng của chúng tôi
     (nơi mọi bước chân đã chết đi
đang nằm như những chiếc lá chìm trong ao
     nhưng bên ngoài thì đêm dữ dội!)

Một cơn bão nghiêm trọng hơn đang qua trên tất cả chúng ta.
     Nó đặt môi vào linh hồn ta
và thổi để làm một tiếng động. Ta sợ
     cơn bão sẽ thổi bay hết mọi thứ trong ta.



Dáng thẫm đang bơi

Một bức hoạ Thời Ðồ Ðá
trên một tảng đá Sahara:
một hình dáng mờ nhạt bơi
trên một dòng sông nguyên sơ cổ đại.

Không có vũ khí, không một kế hoạch,
không nghỉ ngơi mà cũng không vội vã,
người bơi tách ra khỏi cái bóng của hắn
đang tuột lại dọc theo đáy sông.

Hắn đã chiến đấu để vượt thoát
khỏi hàng triệu chiếc lá đang ngủ,
để tới được bờ bên kia
và nhập lại vào cái bóng của hắn.



Nhạc chậm

Toà nhà không mở cửa hôm nay. Nắng chen vào qua những khung cửa sổ
và làm ấm mặt trên của cái bàn giấy
đủ mạnh để mang số mạng của những kẻ khác.

Hôm nay chúng tôi ở ngoài trời, trên triền dốc dài rộng.
Vài người mặc đồ sậm. Nếu bạn đứng trong nắng, và nhắm mắt lại,
bạn cảm thấy như bạn đang được thổi về phía trước.

Tôi rất ít khi xuống tới biển. Nhưng lúc này tôi đã tới,
giữa những tảng đá cỡ lớn với những tấm lưng êm ả.
Những tảng đá đã đi lùi dần ra khỏi biển.



Khoảng thở tháng Bảy

Người đàn ông nằm ngửa dưới những đại thụ
hắn cũng ở trên cây. Hắn phân ra thành hàng ngàn nhánh nhỏ.
Hắn lắc lư qua lại,
hắn ngồi trên chiếc ghế giàn phóng ầm ầm đi tới trong cảnh quay chậm.

Người đàn ông đứng dưới ụ tàu vít cặp mắt mình vào mặt nước.
Ụ tàu già nhanh hơn người ta.
Chúng có những cây cột xám bạc và đá cuội trong ruột chúng.
Ánh sáng loá mắt đâm thẳng vào.

Người đàn ông nằm nguyên ngày trên một con thuyền không mui
đang đi qua những bờ vịnh phát sáng
cuối cùng sẽ ngủ thiếp đi bên trong cái chụp đèn xanh của hắn
khi những hải đảo bò như loài bướm đêm khổng lồ trên mặt địa cầu.


--------------------
Nguồn: Dịch từ bản dịch Anh ngữ của Robert Bly các bài thơ “The Storm”, “The Man Awaken by a Song above His Roof”, “Kyrie”, “The Couple”, “The Tree and the Sky”, “A Winter Night”, “Dark Shape Swimming”, “Slow Music”, và “Breathing Space July” trong thi tuyển của Tomas Tranströmer, The Half-Finished Heaven (Saint Paul, MN: Graywolf Press, 2001).


* Đây là bài cuối cùng trong tập thơ “cuối cùng” của Tomas Tranströmer. (ND.)

Không có nhận xét nào: